Lịch sử Liên hiệp Người Việt toàn Liên bang Đức - Phần II:  Sau Đại hội thành lập 22.10.2011 - Dư âm và trăn trở

Mô hình cấp Liên bang và Điều lệ

Về mặt tổ chức, Hội người Việt ở cấp Liên bang không mang nghĩa hành chính là cấp cao nhất, cấp giữa là hội người Việt tiểu bang, dưới cùng hội điạ phương, và cũng không có nghĩa bắt buộc phải bao gồm tất cả mọi người Việt ở Đức, mà chỉ có nghĩa mục tiêu, phạm vi hoạt động và hội viên toàn Liên bang.

Điều lệ hội, vì vậy, đã phải tham khảo tổng hợp các văn bản luật về hội đoàn (Vereinsrecht), cùng các điều lệ mẫu, và 5 điều lệ hội đoàn nước ngoài ở Đức, gồm Hội Người Thổ Nhĩ kỳ toàn Liên bang Đức TGD, Hội Người Kroatien KWKD toàn liên bang Đức, Hội người Araber Liên bang Đức, Hội người Serben ZSD toàn Liên bang Đức và Hội người châu Phi ADV-Nord, Bắc Đức.

Điều lệ soạn thảo Liên hiệp người Việt toàn Liên bang Đức đã nhận được tổng cộng 33 ý kiến đóng góp bằng văn bản. Trong số đó, có 27 ý kiến góp ý sửa đổi một vài điều khoản, và cách hành văn. Bên cạnh đó, có 4 cá nhân gửi tổng cộng 4 điều lệ hoàn toàn do mình hoặc nhóm mình tự soạn thảo. Điều lệ soạn thảo, sau khi tập hợp ý kiến đóng góp trên, được thông qua Hội nghị trù bị, và tiếp đó đưa ra cuộc họp Ban Tổ chức để tiếp thu sửa chữa, trở thành văn bản chính thức trình Đại hội thông qua.

Tên hội đoàn

Được quy định tại điều §12 và §57 đoạn 1 Bộ luật Công dân BGB, chỉ đòi hỏi không được trùng với tên hội đoàn khác. Vấn đề nằm ở chỗ chọn tên sao cho phản ảnh được tính chất hội đoàn. Tên gọi Liên hiệp người Việt toàn Liên bang Đức, cũng chỉ là một phương án cụ thể, nhằm thể hiện lực lượng thành viên cá nhân và pháp nhân trong hội đoàn ở quy mô toàn Liên bang. Trong đó người Việt được hiểu là đang mang hộ chiếu Việt hoặc gốc Việt.

Ban chấp hành

BCH là cơ quan lãnh đạo hội, nhưng khác hoàn toàn với doanh nghiệp cổ phần, với BCH đảng phái, với cơ quan dân cử, với hội đoàn trong nước vốn có quyền lực, lợi ích được hưởng từ nhà nước, và phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng. BCH hội đoàn ở Đức không được hưởng và không phải chịu trách nhiệm như vậy, nên pháp luật cho phép tham gia BCH kể cả không phải hội viên (SoegelHađing, §27, mục 3). Bởi dù BCH hay hội viên, hoạt động cộng đồng là mục đích thiện nguyện chứ không phải phương tiện mưu sinh; chỉ có tấm lòng và danh dự là động cơ thúc đẩy họ. Trên thực tế BCH chẳng ra lệnh được cho ai, mà phải bỏ thời gian công sức cho công việc của hội và vận động hội viên tham gia, vì vậy để có được BCH như mong đợi, cần động viên, cổ vũ họ, khác với bầu cử quốc hội đòi ứng viên phải hưá hẹn, cam kết, khác với bổ nhiệm quan chức, phải ký hợp đồng. Trong thực tế không hiếm trường hợp cá nhân BCH lợi dụng hội, khi đó họ phải trả giá danh dự trước con mắt cộng đồng, nếu phạm pháp sẽ bị truy tố, chỉ có thể phòng ngừa bằng cách hội viên phải thực sự quan tâm đến hoạt động của hội và BCH.

Hội đồng thành viên

Điểm khác biệt cơ bản so với điều lệ các hội đoàn người Việt xưa nay là cơ quan hội. Ngoài BCH còn có Hội đồng thành viên gồm đại diện các hội đoàn và đại diện nhóm cá nhân hội viên. Do các hội thành viên không phải là cấp dưới của Liên hiệp mà là những tế bào độc lập liên kết với nhau cấu thành Liên hiệp, nên Liên hiệp phải có Hội đồng thành viên gồm những đại diện cho hội cấu thành để tổ chức hội mình thực hiện các nghị quyết chung của Liên hiệp, (hình thức phần nào tương tự như Thượng viện Đức, gồm đại diện các tiểu bang) đồng thời giám sát BCH giữa 2 kỳ đại hội, nhất là khi Liên hiệp thực hiện các dự án, tài chính. Do đó thiếu cơ quan này, Liên hiệp về quy mô, tính chất sẽ như các hội điạ phương, hay hội văn hoá, văn nghệ, thể thao...và đặc biệt nguy cơ rất ít Hội tham gia hoặc chỉ đăng ký danh sách, cùng lắm tham dự Đại hội cho có phong trào bởi họ không có tiếng nói vào chủ trương chung và họ không phải cấp dưới.

Hội viên

Theo phán quyết toà án OLG Köln (NJW 1989 S.173), toà án LG Hamburg (Rpfleger 1981 S 189), toà án LG Mainz (MDR 1978 S. 312), hội viên có thể hỗn hợp gồm cả cá nhân lẫn pháp nhân. Trong trường hợp bao gồm cả hai, phải có ít nhất 7 hội viên cá nhân tham gia. Liên hiệp Hội Dachverband được định nghĩa, trên nguyên tắc (in der Regel) bao gồm các pháp nhân. Trên “nguyên tắc“, cũng có nghĩa không ngoại trừ cá nhân tham gia, chỉ cần điều lệ hội cho phép là được. Trong trường hợp đó, Toà án Liên bang quy định (BGH NJW 1989 S. 1212), mỗi hội viên là một phiếu biểu quyết bất luận họ là pháp nhân hay cá nhân, nếu họ tham gia họp. Thực tế Hiệp hội ngoại kiều Kroatien với gần 400.000 người (Der Kroatische Weltkongresses in Deutschland e.V) hay Hiệp hội Zentralrat der Serben in Deutschland (mã số VR 19168) đều quy định hội viên gồm các hội và cá nhân. Lý do: ở các tổ chức, cơ quan nhà nước, thành viên được luật định rõ là hoặc cá nhân hoặc chỉ pháp nhân, không thể gộp, bởi cá nhân không thể bình đẳng với tổ chức về trách nhiệm, chức năng, thẩm quyền và lợi ích được hưởng, từ nhà nước. Hội đoàn hoàn toàn khác, hội viên không vì lợi ích cá nhân, lương bổng, quyền hành từ nhà nước, cũng không bị chế tài về trách nhiệm, một khi không thích thì ra khỏi hội, mà chỉ nhằm thiện nguyện, hoạt động bằng tấm lòng, nên càng tập hợp được nhiều đối tượng tham gia thì khả năng đạt tới mục đích đề ra càng lớn, bất luận họ là tổ chức hay cá nhân, điạ vị pháp lý như thế nào. Giải thích tại sao, Liên hiệp người Việt toàn Liên bang Đức cần những cá nhân nổi bật, hoạt động tích cực đóng góp cho cộng đồng.

Hội viên tài trợ và hội viên danh dự

Tấm lòng, động cơ thiện nguyện vì cộng đồng, hầu như ai cũng có, nhưng không phải ai cũng có điều kiện tham gia Hội. Họ chỉ có thể tham gia, hoặc giúp đỡ ủng hộ hoạt động nào đó của hội hoặc tư vấn cho hội, hoặc tài trợ cho hội, phải được Hội ghi nhận bằng danh hiệu hội viên tài trợ hoặc hội viên danh dự. Đặc biệt trong điều kiện nền kinh tế thị trường hầu như mọi hoạt động thiển nguyện đều cần đến tài chính, thì vai trò tài trợ và hội viên tài trợ đóng vai trò nền tảng cực kỳ quan trọng cần được khuyến khích, kêu gọi và vinh danh. Ở Đức, tiền doanh nghiệp quyên góp cho các hội đoàn theo con số thống kê vào năm 2008 là 4,6 tỷ Euro, nếu tính thành lương chuyên trách 15.000 Euro/năm, thì các doanh nghiệp đã cung cấp cho hội đoàn chừng 300.000 chuyên trách/năm, làm công việc thiển nguyện, thay vì các hội viên phải bỏ ra một lượng thời gian đó để đóng góp. Hội người Việt cấp liên bang rộng khắp liên bang, không thể hoạt động không có chuyên trách như một số hội điạ phương chỉ dưạ vào BCH, hoặc hội viên, tranh thủ ngoài giờ, trong phạm vi hẹp điạ phương mình. Vì vậy, tài trợ và hội viên tài trợ phải được ưu tiên hàng đầu trong thành lập và tổ chức hoạt động của hội. Ngược lại, hội phải quảng bá cho những đóng góp tài trợ đó, ghi nhận công lao, tấm lòng của họ trước cộng đồng.

Vai trò Đại sứ quán, các tổ chức, cơ quan chính quyền trong nước và tại Đức

Hội đoàn độc lập nhưng không có nghĩa cô lập. Nó nằm trong một xã hội, trong một quốc gia, phải có mối liên hệ với mọi tổ chức cơ quan của xã hội quốc gia đó và với thế giới. Một khi mục đích thiện nguyện của Hội đòi hỏi tập hợp được càng nhiều người, nhiều tổ chức tham gia càng mạnh, được ủng hộ giúp đỡ càng nhiều càng tốt, thì việc được Đại sứ quán, các tổ chức cơ quan chính quyền trong nước và tại Đức cỗ vũ về tinh thần, giúp đỡ về tổ chức, tư vấn về pháp lý, tài trợ cho các chương trình là nền tảng cực kỳ cần thiết để Hội đạt được mục đích, mà không mất đi tính độc lập của mình.

Vai trò bảo trợ trên khác bản chất với lãnh đạo, chỉ đạo. Bảo trợ cho Hiệp hội Die Initiative Südniedersachsen für Ausbildung e.V. (ISA) là Thủ hiến Christian Wulff, Tiểu bang Niedersachsen. Bảo trợ cho Hiệp hội Verein für Umwelterkrankte e.V là bà Heide Simonis, cựu Thủ hiến tiểu bang Schleswig-Holstein. Thậm chí trong điều lệ của Hội Förderverein Klinik für Kinder- und Jugendmedizin Cottbus, Điều §5 Cơ quan hội, ghi rõ bảo trợ cho hội là một nhân vật chính quyền trong nhiệm kỳ đó. Hay như tổ chức DPJW trao đổi văn hoá thanh thiếu niên giữa Ba Lan và Đức được cả nguyên thủ của 2 quốc gia bảo trợ.

Tới chương trình kỷ niệm ngày Đức-Mỹ 12.10.2003 của Hội Deutsch-Amerikanischen Clubs e.V, Bremen cũng được Thủ hiến Tiểu bang Dr. Henning Scherf bảo trợ.

Bảo trợ không hề mang tính chính trị hay hành chính, chỉ huy, lãnh đạo, hoàn toàn tự nguyện, không có ràng buộc bất cứ điều kiện, hay chi phí gì, nên là cơ may cho hội đoàn không dễ gì và không phải lúc nào cũng có.

Vai trò đại diện của Hội

Thống kê cho thấy, chỉ 60% người Đức tham gia hội đoàn; và tại Đức không phải sắc tộc nào cũng có hội đoàn cấp liên bang.

Lý thuyết về tổ chức dân sự nhìn xã hội loài người như một hình tròn, bên trong có 3 hình tròn nội tiếp, cạnh nhau, hình tròn thứ 1 chính là nhà nước hoạt động bằng quyền lực, hình tròn thứ 2 là thị trường hoạt động bằng trao đổi hàng hoá, tiền bạc, hình tròn thứ 3 là gia đình hoạt động bằng tình cảm. Phần diện tích nằm ngoài 3 hình tròn trên chính là các tổ chức dân sự, có chức năng giải quyết những vấn đề không thuộc nhà nước, không thể mua bán, ngoài phạm vi gia đình, và chỉ bằng tâm huyết của mình không đòi trả công, không vụ lợi.

Đại diện trong khái niệm hội đoàn không hiểu theo nghĩa dân cử, thay mặt, ủy quyền; thực tế chưa có hội người Việt nào được toàn cộng đồng bầu lên, và chắc chắn 120.000 người Việt không bầu lên Hội người Việt Liên bang. Khái niệm đại diện của hội đoàn, vì vậy, chỉ được hiểu dưới góc độ quyền lợi, phục vụ cho quyền lợi, vì quyền lợi của cộng đồng, và chỉ được chính quyền, các tổ chức liên quan thừa nhận, khi chứng minh được điều đó. Hội người Việt Liên bang vì vậy, có muốn cũng chẳng đại diện được cho ai, nếu nền tảng của nó là 120.000 người Việt với chừng 100 hội đoàn thiếu tâm huyết xây dựng nên nó, hay ỷ lại cho cá nhân hoặc 1 nhóm người, dù họ tài năng và tâm huyết tới mấy.

Nhiệm vụ Hội & Hỗ trợ của nhà nước

Với mục đích xây dựng cộng đồng người Việt lớn mạnh, thì nhiệm vụ không kể xiết, làm bao nhiêu cũng chưa đủ, trong khi theo định nghĩa hội đoàn, đó là những hoạt động của công dân trong thời gian rỗi (Vereinrecht, NWB, S 05). Vì vậy nếu thiếu chuyên trách, thiếu ngân qũy, cơ sở vật chất, thì mục đích trên chỉ dừng lại ở mong muốn, nên việc xây dựng các dự án để khai thác các nguồn kinh phí của nhà nước, kêu gọi quyên góp từ doanh nghiệp, nhà hảo tâm, đóng góp của hội viên sẽ quyết định thành công của hội. Bao nhiêu, loại dự án nào, cần chuyên gia xây dựng ra sao, kêu gọi tài trợ quyên góp như thế nào, BCH, hội viên, chuyên trách làm những gì... ? Tất cả trông chờ vào bộ máy của Liên hiệp, từ tấm lòng và cố gắng của mỗi cá nhân, mỗi hội đoàn tham gia, từ các doanh nghiệp, nhà hảo tâm, từ sự bảo trợ của Đại sứ quán, giúp đỡ của trong nước, của cơ quan chính quyền Đức và đặc biệt từ chính 120.000 người Việt sẵn sàng phấn đấu cho một cộng đồng lớn mạnh đóng vai trò nền tảng. Thiếu nền tảng đó, khó có thể kỳ vọng vào bất cứ hội đoàn nào, kể cả cấp liên bang !

Nền tảng các dự án trước hết là chủ trương chính sách hoà nhập của Đức và EU

Dự kiến trong giai đoạn 2007 đến 2013 từ nguồn vốn EIF (Europảische Integrationsfond) thuộc tổng dự án Soldarität und Steuerung der Migrationsströme - Amtsblatt der Europäischen Union 2007/435/EG). Riêng năm 2011, CHLB Đức duyệt chi cho 120 dự án (Projekte) với tổng kinh phí gần 25 triệu Euro, bình quân mỗi dự án chừng 200.000 Euro.

Trong số hơn 30 ý kiến góp ý, đáng chú ý có đề xuất của ông Nguyễn Kế Bảo, Phó chủ tịch Hội người Việt Dresden, đã đầu tư công sức, soạn thảo tỷ mỷ 4 dự án, để trình bày về một cách thức cụ thể, tại thành phố ông cư trú, đã làm như thế nào:

1- Dự án Tiếng Đức Chủ Nhật: Nhằm bồi dưỡng kiến thức hoà nhập cho người Việt nhập cư (Sonntags-Deutschunterricht zur nachhaltigen Intergration vietnamesischer MigrantInen), trước mắt tổ chức 16 lớp học, tại 7 thành phố lớn cho lao động và tự kinh doanh người Việt không thể học các lớp tiếng Đức trong tuần mà chỉ có thể vào chủ nhật, sử dụng giáo viên người Việt, tạo cả công ăn việc làm cho họ. Đồng thời đây là dự án bổ khuyết khe hở (Lücke: dạy, học chủ nhật) trong xã hội Đức mà lãnh đạo Tp. Dresden rất khuyến khích với tổng kinh phí xin nhà nước Đức tài trợ, năm thứ 1: 126.780 Euro, năm thứ 2: 125.920 Euro.

2- Dự án Văn hoá Việt và hoà nhập với thế giới (die Vietnamesische Kultur und ihre Integration in die Welt): Với các đề tài:

- Lịch sử, truyền thống, phong tục tập quán các vùng miền Việt Nam.

- Ngôn ngữ Việt với thế giới.

- Y học cổ truyền Việt Nam với y học hiện đại.

- Văn hoá thời trang Việt Nam và hội nhập thế giới.

- Văn hoá ẩm thực Việt Nam. Với dự án này, sẽ tổ chức các buổi báo cáo tại các thành phố lớn toàn liên bang, mời chuyên gia từ trong nước sang, với tổng kinh phí xin nhà nước Đức cấp năm thứ 1: 93.500 Euro, năm thứ 2: 90.040 Euro.

3- Dự án Bồi dưỡng kiến thức hoà nhập cho cộng đồng (Qualifizierung vietnamesischer MigrantInen zur nachhaltigen Intergration)

Dự án thông qua tổ chức báo cáo hội thảo các chuyên đề về tìm việc, thất nghiệp, trợ cấp, thuế khoá, các chế độ chính sách, tại các thành phố lớn cho người Việt có nhu cầu, tổng kinh phí, năm thứ 1: 132.380 Euro, năm thứ 2: 131.520 Euro.

4- Dự án Phim tài liệu về lịch sử và quá trình hội nhập của người Việt tại Đức

Dự án này nhằm lưu lại lịch sử cộng đồng người Việt tại Đức từ thế chiến thứ 2 lại đây, với tổng kinh phí 272.568 Euro cho năm thứ 1, và 380.168 Euro cho năm thứ 2.

Ngoài kinh phí phiá Đức và EU, Liên hiệp có thể nhận được Quỹ hỗ trợ Việt Nam

Qũy này nhằm vận động cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo Quyết định 60/2003/QĐ-BTC của Bộ Tài chính, với mức kinh phí khởi đầu 7 tỷ đồng Việt Nam / năm, dùng để:

- Bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc, duy trì và phát triển tiếng Việt trong cộng đồng;

- Tổ chức hoạt động giao lưu về nguồn: trại hè thanh thiếu niên, thi đấu thể thao, triển lãm, biểu diễn nghệ thuật;

- Hỗ trợ hoạt động thông tin, văn hóa phục vụ cộng đồng;

- Hỗ trợ vận động người Việt Nam ở nước ngoài về nước đầu tư, hợp tác kinh tế và khoa học;

- Hỗ trợ cá nhân chuyên gia, trí thức người Việt Nam ở nước ngoài về nước làm việc, hợp tác khoa học;

- Hỗ trợ hoạt động của các hội, các tổ chức người Việt Nam ở nước ngoài;

- Hỗ trợ khác phù hợp với tôn chỉ mục đích của Quỹ. Nguồn kinh phí này chỉ có thể khai thác bởi hội đoàn ở cấp liên bang, và có bộ máy tổ chức thực hiện chuyên nghiệp.

Các dự án ví dụ trên đều liên quan đến ngân sách nhà nước, của Đức, EU và Việt Nam, được duyệt hay không tuỳ thuộc nỗ lực hoạt động của cả cộng đồng chứng minh triển vọng của nó, và sự đóng góp đối ứng của cộng đồng, mặt khác đòi hỏi người thực hiện dự án phải chịu được sức ép kiểm tra lẫn chịu trách nhiệm cá nhân rất lớn. Do đó, Hội làm như thế nào chăng nữa, cũng không thể thiếu được sự hưởng ứng nhiệt tình của cộng đồng mà trong đó hội viên là nòng cốt. Chỉ đơn giản, mở lớp học tiếng Đức, nhưng không có người tới dự, nghĩa là thất bại, thì sẽ phải hoàn trả lại kinh phí.

Rốt cuộc Hội người Việt toàn Liên bang không phải một cơ quan nhà nước Đức hay Việt Nam, có chức năng phục vụ cộng đồng người Việt ở Đức, mà là một tổ chức dân sự của đông đảo người Việt cùng tâm huyết vì chính cộng đồng mình, phục vụ cho chính cộng đồng mình, và chỉ khi điều đó được thể hiện trên thực tế, mới có thể kỳ vọng về một cộng đồng người Việt ở Đức mạnh, có vị thế, và tiếng nói!

(Xem thêm:

=> Lịch sử Liên hiệp Người Việt toàn Liên bang Đức - Phần I: Đại hội thành lập - Sự kiện trọng đại, cột mốc lịch sử cộng đồng).

(Còn tiếp)

Dr. Nguyễn Sỹ Phương

Về trang trước

Chủ đề:

Bình luận và đánh giá
Gửi nhận xét đánh giá

Luật Pháp

Nhập cư

Người Việt ở Đức

Chính trị - Xã hội

Lên đầu trang